Chủ đề

Trung tướng trở về với chốn linh thiêng của dân tộc Việt

(Chính trị) - Hơn 50 năm trước, vị Tư lệnh Đoàn 559 – Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên đã thoát chết kỳ diệu khi quả bom ném trúng xe ông giữa núi rừng. Nhưng hôm qua, trưa 4-4-2019, ông đã từ giã trần gian ở tuổi 96 để trở lại và bất tử với núi rừng Trường Sơn… 

“Cánh chim đại bàng” nguyện ước trở về Trường Sơn

Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên có 10 năm công tác trên tuyến đường – chiến trường Trường Sơn mà tài thao lược và nhân cách sáng ngời của ông đã toả sáng để cùng với cán bộ, chiến sĩ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước, quân đội giao phó trong việc chi viện sức người sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam và giúp đỡ cách mạng hai nước bạn Lào, Campuchia.

Cuộc đời 96 mà tới 84 năm cống hiến (từ khi tham gia cách mạng ở tuổi 12) Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên đã sống trọn vẹn gần một thế kỷ đầy sôi động cùng với nhiều đóng góp và công lao to lớn. Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên là vị Tư lệnh của Binh đoàn Trường Sơn trong thời gian lâu nhất (1967 -1975) và là một trong hai vị tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam được phong quân hàm vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng.

Vĩnh biệt tướng Trường Sơn huyền thoại Đồng Sỹ Nguyên

Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên cũng đã từng giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, kiêm Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải; Đặc phái viên Chính phủ, Đặc trách Chương trình 327 về bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, Cố vấn Đặc biệt của Thủ tướng Chính phủ, tham gia Ban Chỉ đạo Nhà nước về quốc lộ Hồ Chí Minh (Quốc lộ Trường Sơn). Trải qua rất nhiều cương vị hoạt động khác nhau, ở cương vị nào ông cũng để lại dấu ấn đặc biệt.

Với cương vị Ủy viên Bộ chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (tức Phó Thủ tướng ngày nay) thì Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên có thừa tiêu chuẩn để có một chỗ nằm trang trọng trong nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội- nơi dành cho những cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước sau khi qua đời.

Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên cũng có thể để chọn một nơi nào đó ở quê ông thuộc tỉnh Quảng Bình mà yên nghỉ. Nhưng tướng Đồng Sỹ Nguyên đã chọn theo cách của một người lính: tuyệt đối không xa rời đồng đội dù bất cứ trong hoàn cảnh nào, cùng chung gánh vác khó khăn, kể cả sự hy sinh để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ mà Tổ quốc đã giao phó. Tinh thần cùng chất lính ấy đã theo tướng Nguyên suốt dặm dài cuộc chiến tranh vệ quốc cho đến tận lúc ông về với thế giới bên kia.

Ngay sau khi tướng Đồng Sỹ Nguyên qua đời hôm 4.4.2019, người ta cho công bố bức thư ông gửi ông Trưởng Ban quản trang Nghĩa trang Trường Sơn từ 5 năm trước (2015). Bức thư của một lão tướng đã vượt ngưỡng 90 nhưng nét chữ vẫn còn rắn rỏi, lời lẽ vẫn chân phương như thuở còn khoác quân phục trên người. Ông nhắc lại rằng, nguyện vọng sau khi qua đời được về nằm cùng đồng đội ở Nghĩa trang Trường Sơn đã được ông đề nghị từ lâu, nay nhắc lại kẻo quên. Thư viết: “… Xin một mảnh đất ở đồi văn bia gần khu quần tượng để an nghỉ. Vậy đề nghị đồng chí ủng hộ và giúp đỡ”.

Lá thư đầy cảm động của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên khi muốn an nghỉ tại nghĩa trang Trường Sơn cùng đồng đội.

Biết bao kính trọng mà người đời sẽ dành cho vị tướng tài ba của mình qua đoạn thư ngắn này. Chẳng chọn thế đất “rồng chầu hổ phục”, cũng không xin được an nghỉ nơi trang trọng nhất mà chỉ xin được nằm bên đồng đội của mình, ở ngay trong lòng nghĩa trang. Nguyện vọng cuối đời của một vị tướng từng xẻ dọc Trường Sơn mới khiêm nhường làm sao! Chỉ có những người suốt đời gắn bó với nhân dân, lo cái lo trước thiên hạ, vui cái vui sau thiên hạ thì mới có những “đề đạt” khó tin như vậy.

Nghĩa trang Trường Sơn nơi dân tộc Việt Nam có một thế hệ cha ông anh hùng

Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn nằm trên “mảnh đất thép” Quảng Trị hiện là nơi an nghỉ của hơn 10 vạn anh hùng, liệt sĩ. Phần lớn trong số ấy là những cán bộ, chiến sĩ các binh chủng Bộ đội Trường Sơn, thanh niên xung phong, công nhân giao thông, dân công hỏa tuyến… đã hy sinh trong quá trình chiến đấu, mở đường Trường Sơn.

Con đường Trường Sơn – con đường của một thời đỏ lửa đã chứng kiến biết bao nhiêu thăng trầm của những con người ngày đêm chinh chiến. Dòng máu nóng của các anh hùng đã hòa tan với con đường để bảo vệ từng mét đường cho tổ quốc.

Thế hệ trẻ chúng ta may mắn được sống trong hòa bình, không phải trải qua thời “mưa bom, lửa đạn”, chưa cảm nhận hết những mất mát, hy sinh của các thế hệ cha anh nơi chiến trường cam go, ác liệt trong các cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Bởi vậy, câu thơ mộc mạc, dung dị của nhà thơ Tố Hữu: “Trường Sơn đông nắng tây mưa. Ai chưa đến đó như chưa hiểu mình”

Những câu thơ như đang khắc sâu trong tâm khảm, thôi thúc thế hệ trẻ hướng trái tim, khát khao được hành trình về Trường Sơn đại ngàn, được một lần đến với “cõi linh thiêng”, thắp nén hương thơm, tri ân những người con trung hiếu của dân tộc đã mãi mãi nằm lại giữa đại ngàn Trường Sơn huyền thoại để giữ vững độc lập, tự do, hạnh phúc cho thế hệ hôm nay và mãi mãi mai sau.

Không phải ngẫu nhiên mà Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn được chọn là một trong hai nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia đặt tại tỉnh Quảng Trị. Chính trên mảnh đất này để dành lấy độc lập tự do, rất nhiều chiến sĩ của ta đã anh dũng ngã xuống. Nơi đây từng là chiến trường vô cùng ác liệt, con đường Hồ Chí Minh huyền thoại – con đường chiến lược đảm bảo sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam. Vì miền Nam ruột thịt, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, những chàng trai cô gái đã để lại sau lưng tất cả những gì tốt đẹp nhất của miền Bắc xã hội chủ nghĩa lên đường “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.

Họ không phải là người lính trực tiếp đánh giặc trên chiến trường mà họ là người lính, dân công làm hậu phương vững chắc mở đường cho những chiến thắng, với trí tuệ, sức trẻ và bản lĩnh Việt Nam đã “không tiếc tuổi thanh xuân” dốc hết sức lực vì miền Nam thân yêu. Họ như những “con thoi” không sợ “mưa bom, bão đạn” của kẻ thù, cùng nhau mở tuyến giao liên vận tải quân sự xuyên Trường Sơn, đáp ứng yêu cầu: “Tiền tuyến kêu gọi, hậu phương sẵn sàng đáp ứng”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Vì miền Nam ruột thịt, miền Bắc làm việc bằng hai”.

Giờ đây, đất nước đã thanh bình nhưng các anh, các chị không thể trở về với mẹ mà mãi mãi nằm lại “ngôi nhà chung” – “Cõi thiêng” giữa đại ngàn trong tiếng thông reo và gió thoảng, chứng kiến dân tộc Việt Nam hùng mạnh trên đường hội nhập và phát triển. Ở đây, không chỉ vào ngày thương binh, liệt sĩ 27.7 hàng năm mà còn vào những dịp mồng một, ngày rằm và nhiều ngày tháng… không có nấm mộ nào nguội lạnh khói hương.

Linh hồn các anh, các chị luôn được nâng niu, trân trọng trong lòng triệu triệu người dân trên khắp mọi miền Tổ quốc mỗi độ hành hương về. Đó chính là ý thức về cội nguồn, là truyền thống nhân văn, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam, nhắc nhở thế hệ hôm nay và mai sau về trách nhiệm đối với non sông đất nước, tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, viết tiếp trang sử vàng của dân tộc Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

(Theo Butdanh.net)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về [email protected]
Thích và chia sẻ bài này trên: