Chủ đề

Bài 1: Thu phục nhân tâm bằng tinh thần khoan dung, nhân ái thời phong kiến

(Thời sự) - “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn” thu phục kẻ lầm lỗi bằng tinh thần khoan dung, nhân ái đó là truyền thống và là bản chất tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.  Nhằm khơi dậy tinh thần khoan dung nhân ái trong cuôc cuộc giữ gìn an ninh trật tự của đất nước ngày nay, Ban biên tập xin gửi đến quý độc giả loạt bài “Lực lượng Công an Nhân dân tiếp nối truyền thống dân tộc Việt Nam”.

Bài 1: Thu phục nhân tâm bằng tinh thần khoan dung, nhân ái trong thời phong kiến

Suốt chiều dài lịch sử dân tộc, trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, dù ở trong hoàn cảnh lịch sử nào, tổ tiên ta luôn luôn dựng cao ngọn cờ đại nghĩa, đại nhân văn và nhân đạo trở nên lũy thành vững chắc, trường tồn nhất, tạo ra sức mạnh vĩ đại nhất để chiến đấu, chiến thắng và bảo vệ  vững chắc độc lập, tự do, toàn vẹn chủ quyền dân tộc.

Trước hết cần phải hiểu nghĩa từ khoan dung, đó là một trong những đức tính truyền thống văn hoá nhân văn rất quý báu của dân tộc Việt Nam. Từ ngàn xưa, trong dân gian người Việt đã lưu truyền tinh thần đồng loại rằng: “đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”, dù có là kẻ đối địch hay trái ngược quan điểm, đạo nghĩa thì cũng phải xem xét với tình cảm: “ Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”…Hiếm có một dân tộc nào như dân tộc Việt Nam, dù ở thời đại nào, lịch sử ra sao rất coi trọng truyền thống khoan dung trong cư xử, thái độ cũng như trong đường lối chính trị.

Trong các triều đại phong kiến Việt Nam, tuy có những hưng suy và sóng gió khác nhau, nhưng giai cấp vương quyền thống trị đều chọn việc “lấy dân làm gốc”, phải dựa vào dân, thương yêu dân, bao dung với nhân dân, rộng lượng tha thứ cho họ khi có lỗi lầm. Pháp luật và Nhà nước hong kiến VN đã từng có những triều đại nổi bật vai trò thượng tôn pháp luật nhưng rất mực thương dân, yêu dân và xây dựng một xã hội hùng mạnh về quốc phòng, phát triển thịnh vượng về kinh tế, mở mang văn hóa, đạo giáo và bang giao như Triều Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn…

Trong lịch sử dân tộc, cách nay hơn 700 năm Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn-một vị tướng lừng danh trong lịch sử dân tộc trước lúc mất cũng đã trăn trối một quan điểm rằng: “khoan thư sức dân làm kế sâu gốc bền rễ”.

Trong xã hội thời nhà Lý, ngoài những đỉnh cao về văn hóa, kinh tế, quân sự, Phật giáo thì tinh thần khoan dung rất được các đời vua coi trọng. Sách sử ghi lại, vua thứ 3 của triều nhà Lý nên hiệu Thánh Tông (1023 -1072) là người đổi quốc hiệu là Đại Việt, nổi tiếng phá Tống, bình Chiêm và trị quốc của Nguyên phi Ỷ Lan. Vào dịp mùa đông giá rét đậm đi thăm những kẻ có tội bị giam cầm trong ngục thất, vua rất thương xót và cảm kích bảo các quan hầu cận rằng: “Trẫm ở trong cung ngự sưởi than thú, mặc áo hồ cừu mà còn rét thế này. Huống chi những tù phạm giam trong ngục, phải trói buộc, cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc; vả lại có người xét hỏi chưa xong, gian ngay chưa rõ, nhỡ rét quá mà chết thì thật là thương lắm” Nhà vua liền hạ lệnh cho quan coi ngục phát chăn chiếu và cho tù nhân ăn cơm ngày hai bữa. Không được lạm nhục hình, lấy đó mà răn cho mọi quan lại khắp nơi làm theo. Một hôm khác, vua Thánh Tông ra ngự ở điện Thiên Khánh xét án, có Động Thiên công chúa đứng hầu bên cạnh. Vua chỉ vào công chúa mà bảo các quan rằng: “Lòng trẫm yêu dân cũng như yêu con trẫm vậy, hiềm vì trăm họ ngu dại, làm càn phải tội, trẫm lấy làm thương lắm. Từ rày về sau tội gì cũng giảm nhẹ bớt đi”. Vua ra lệnh, từ nay về sau không cứ tội nặng nhẹ đều nhất loạt khoan giảm. Có lẽ vì thế mà 216 năm dưới triều Lý dường như không có cuộc khởi nghĩa nông dân nào.

Vua Lý Thánh Tông là người tài kiêm văn võ. Song, ông còn nổi tiếng là một minh quân có nhiều đức độ trong lịch sử Việt Nam. Ông tận tụy với công việc, thương dân như con, được biết đến vì đã đối xử tốt với tù nhân. Trong hình là tượng thờ của Nguyên phi Ỷ Lan và vua Lý Thánh Tông.

Đến đời Trần, trong các lễ hội truyền thống, vua quan và nhân dân cùng nắm tay nhau múa hát không phân biệt. Đặc biệt vị vua trẻ Trần Nhân Tông–Người chỉ huy đánh thắng giặc Nguyên lần thứ ba, gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành Chế Mân đổi lấy Châu Ô, Châu Rý mang lại thái bình cho muôn dân, thoát tục tu hành trở thành vị Tổ sư của Trúc Lâm Thiền viện Yên Tử. Sinh thời, vua thường nhắc nhở con cháu và quan thần chớ quên rằng tổ tiên xưa kia cũng là những người dân đen. Nếu kẻ dưới có lỗi, các vua Trần thường nhận do lỗi của mình trước, xét xử đầy khoan hậu, ít nghiêm khắc.  Mỗi khi xuất cung, xe vua gặp các gia nô vương hầu thường dừng lại hỏi han, không cho cận vệ nạt nộ, quát tháo. Chính vì coi trọng đường lối khoan dung, dưỡng sức dân, coi trọng sự đồng tình ủng hộ của nhân dân mà nhà Trần ba lần đại thắng quân Nguyên. Thắng lợi đó là do cả nước cùng đồng lòng góp sức đánh giặc, đoàn kết toàn dân, vua tôi hoà mục, quan dân đồng lòng.

Vua Trần Nhân Tông vốn có chí xuất gia từ nhỏ, nhưng không được vua cha chấp thuận. Sau khi lãnh đạo quân dân chiến thắng giặc Nguyên Mông, ngoài nhường ngôi cho con để có thì giờ nghiên cứu Phật pháp, sau đó quyết định vào tu ở núi Yên Tử. Ngài đã thể hiện tinh thần giải thoát đối với quyền uy, danh vọng. Trong thời gian tu hành, ngài đi khắp nước, sang tận Chiêm Thành để hoằng dương Phật pháp, xây dựng hòa bình. Dân tộc Việt đã tôn xưng ngài như một vị Phật.

Trong sách Bình Ngô đại cáo bất hủ của Nguyễn Trãi, tinh thần khoan dung, nhân nghĩa của dân tộc ta được thể hiện rất rõ như một ngôi sao sáng dẫn đường: “Đem đại nghĩa mà thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo”. Lòng vị tha và khoan dung không chỉ đối với nhau trong cùng quốc gia dân tộc mà còn được thể hiện cả với kẻ thù. Khi quân xâm lược nhà Minh thất bại phải đầu hàng, triều đình Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã tha mạng sống cho hơn 10 vạn sỹ binh, còn cấp ngựa, chiến thuyền, lương thảo cho về nước. Đây là một hành động hiếm có trong lịch sử mà ngàn đời sau còn ca ngợi. Khoan dung và nhân nghĩa đó, không chỉ đối với kẻ thù xâm lược từng “nằm gai nếm mật” “thề ăn gan uống máu kẻ thù” vì chúng tàn bạo, vô nhân tính, giết hại muôn dân, mà còn là đỉnh thiêng cao nhất của một dân tộc anh hùng, nhân đạo, nhân văn.

Nguyễn Trãi là con ông Tiến sĩ Nguyễn Phi Khanh. Ông Tiến sĩ bị quân Minh bắt sang Tàu. Ông Nguyễn Trãi theo khóc tiễn cha tới ải Nam Quan. Ông Phi Khanh bảo: ''Con mau trở về lo trả thù cho cha, rửa nhục cho nước, chớ theo cha khóc lóc mà làm gì !''. Ông Nguyễn Trãi nghe lời cha, về giúp vua Lê Lợi bày mưu định kế đánh quân Nguyên, về sau ông thành một bậc đại công thần.

Lê Lợi, Nguyễn Trãi và muôn ngàn binh sĩ, tướng quan đều căm hận, nhưng tha cho kẻ thù là muốn nuôi dưỡng nhân sinh, nhân văn, muốn dập tắt lửa thù hận, chiến tranh sau này khiến sinh linh đồ thán…Tư tưởng khoan dung đó còn thể hiện rất rõ trong Quân trung từ mệnh tập. Qua những thư từ gửi cho các tổng binh, đô đốc và tướng lĩnh nhà Minh, Nguyễn Trãi thay mặt cho nghĩa quân luôn kêu gọi chúng mau chóng quy hàng để quân lính hai bên đỡ chết chóc, nhân dân hai nước đỡ đau khổ.

Trong sách Bình Ngô đại cáo bất hủ của Nguyễn Trãi, tinh thần khoan dung, nhân nghĩa của dân tộc ta được thể hiện rất rõ như một ngôi sao sáng dẫn đường: “Đem đại nghĩa mà thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo”

Ngược dòng sử Việt, khi đặt Luật Hồng Đức –Lê triều Hình luật, ra đời thời vùa Lê Thánh Tông (1442-1497). Mặc dù ra đời ở giai đoạn Nho giáo phát triển cực thịnh nhưng Bộ luật Hồng Đức có nhiều điều thể hiện sự tôn trọng, tính nhân đạo và tiến bộ, nhất là đối với phụ nữ và trẻ em. Bộ luật Hồng Đức là một công trình pháp luật tiêu biểu được nhà Hậu Lê xây dựng, được coi là Bộ luật nổi bật, quan trọng và có vai trò rất đặc biệt trong lịch sử pháp quyền phong kiến Việt Nam. Dù mang bản chất giai cấp phong kiến, nhưng Bộ luật Hồng Đức lại chứa đựng nhiều yếu tố tiến bộ với những quy phạm bảo vệ quyền lợi của người dân, của tầng lớp dưới, của nô tì, người cô quả… Nhiều quy định của Bộ luật tập trung bảo vệ người dân chống lại sự ức hiếp, sách nhiễu của cường hào, quan lại. Đặc biệt Bộ luật Hồng Đức còn có một số quy định bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số, điều đó phản ánh truyền thống nhân đạo, truyền thống tôn trọng phụ nữ, tư tưởng “lấy dân làm gốc”, lấy làng xã làm nền tảng của quốc gia…

Vào nửa cuối thế kỷ XV, vương triều Lê Thánh Tông (1460-1497) đã đạt được những thành tựu rực rỡ trong xây dựng và phát triển đất nước. Nhà nước Đại Việt được củng cố vững chắc, thống nhất theo mô hình nhà nước phong kiến trung ương tập quyền và thực hiện việc cai trị đất nước, quản lý xã hội bằng pháp luật. Gắn liền với việc đổi mới, xây dựng thể chế chính trị, Lê Thánh Tông đặc biệt quan tâm xây dựng con người chính trị, trọng tâm là vấn đề đào tạo và sử dụng quan lại

Trong những trường hợp nhất định, pháp luật nghiêm cấm việc đối xử bạo ngược với tù nhân, trong đó có tù nhân là phụ nữ và trẻ em như Điều 707 có quy định: “Ngục giám vô cớ hành hạ tù nhân đến bị thương thì xử theo luật đánh người bị thương. Nếu xén bớt áo quần, cơm, đồ ăn của tù nhân thì căn cứ vào việc bớt xén đó kết tội ăn trộm; hoặc bởi đánh đập, bớt cơm mà tù nhân chết thì bị xử đồ hay lưu. Ngục quan và giám ngục quan biết sự việc không tố giác thì cũng bị tội trên, nhưng được giảm một bậc”. Hoặc có quy định: “Quan coi ngục, lại ngục, ngục tốt gian dâm với đàn bà, con gái có chuyện thưa kiện thì tội nặng hơn một bậc so với tội gian dâm thông thường. Nếu có thuận tình thì giảm 3 bậc tội cho các gian phụ ấy. Nếu họ bị hiếp thì không xử tội họ” (Điều 409). Đặc biệt tại Điều 680 quy định: “Đàn bà phạm tội tử hình trở xuống, nếu đang mang thai thì phải đợi sau khi sinh đẻ 100 ngày mới đem hành hình. Nếu chưa sinh mà đem hành hình thì ngục quan bị biếm hai tư, ngục lại bị tội đồ làm bản cục đinh. Dù đã sinh nhưng chưa hết hạn 100 ngày mà hành hình thì ngục quan và ngục lại bị xử biếm hay bị phạt. Nếu khi chưa sinh mà thi hành tội đánh roi thì ngục quan bị phạt 20 quan tiền, ngục lại bị đánh 80 trượng. Nếu do đánh roi dẫn đến trọng thương hay chết thì xử vào tội “quá tất sát thương” (lỡ tay giết người, làm bị thương người)…”.

Bộ luật Hồng Đức có nhiều quy định nhân đạo với phụ nữ và trẻ em.

Có thể nói Bộ luật Hồng Đức hay Quốc triều hình luật là đỉnh cao của thành tựu pháp luật Việt Nam so với các triều đại trước đó. Đánh giá về giá trị của Bộ luật Hồng Đức, sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú viết: “Đời vua Lê có ban hành Bộ Hồng Đức hình luật, các đời sau vẫn theo Bộ luật ấy. Tuy có vài sự sửa đổi nhỏ trong lời văn, hay trong cách xếp đặt loại mục tùy theo thời kỳ, song các điều khoản căn bản vẫn không thay đổi. Bộ luật ấy đã được dùng làm quy củ để cai trị trong nước và cải thiện lòng người”. Trong sớ tấu dâng lên vua Gia Long năm Ất Hợi (1815), tổng tài Nguyễn Văn Thành viết: “Nước ta trong các triều đại trị vì từ trước đến nay, triều đại nào cũng đều có bộ luật của triều đại ấy. Qua Bộ luật Hồng Đức, người ta biết rằng thời bấy giờ, việc phạm tội đã được xếp thành thứ bậc để dễ truy tầm, còn sắc luật thì rất giản lược mà phân minh…”.

Những điều đó đã đủ thấy rằng Bộ luật Hồng Đức đã được vận dụng và được xem là chuẩn mực của nền cổ luật nước ta qua nhiều triều đại; bên cạnh tính giai cấp nó còn mang tính nhân đạo, tiến bộ và tính dân tộc đặc trưng, sự khoan dung, nghiêm pháp, có tình đã tạo cho đất nước ổn định, thượng tôn pháp luật và thái bình, vững mạnh một thời gian dài.

(Còn tiếp)

Mời quý độc giả đón đọc Bài 2: Thu phục nhân tâm bằng tinh thần khoan dung, nhân ái trong thời chiến tranh cứu quốc.

Hoàng Đức Tâm

Hành Cung Vũ Lâm và Đại thắng Nguyên Mông

Hành Cung Vũ Lâm và Đại thắng Nguyên Mông

Người dân Việt đều biết đến cố đô Hoa Lư từng là kinh đô của nước Đại Cồ Việt của các triều đại Đinh, Tiền Lê và buổi đầu nhà Lý. Nhưng chắc không nhiều người biết đến Hành cung Vũ Lâm, nơi...
Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về [email protected]
Thích và chia sẻ bài này trên: