Chủ đề

Chúng ta đang “đứng” đâu trong ngày thống nhất đất nước?

(Chính trị) - Tôi không muốn gọi ngày 30/4 là ngày chiến thắng mà chỉ muốn gọi là ngày Tết thống nhất, non sông nối liền một dải, các gia đình có thể đoàn tụ với nhau. Cùng là dân tộc Việt Nam thì không có kẻ thắng, người thua mà chỉ là chúng ta đã và đang cùng nhau vượt qua những giai đoạn khó khăn, đau khổ và chia rẽ.

Trong lịch sử, nước ta đã nhiều lần bị xâm lược và đô hộ. Một nghìn năm Bắc thuộc, một trăm năm Pháp thuộc, hai mươi năm Mỹ đô hộ ở Miền Nam. Mỗi lần chiến tranh là nỗi đau về chia cắt, phân ly lại hiện về, nó như một lưỡi dao sắc cứa ngang qua con tim người Việt, mang lại khổ đau và mất mát cho muôn triệu kiếp người. Vì thế, cái khát vọng được thống nhất, hoàn bình luôn thổn thức và cháy bỏng trong tim mỗi con dân đất Việt. Biết bao nhiêu thế hệ cha ông đã ngã xuống, bao nhiêu anh hùng tuổi đời còn trẻ đã hăng hái lên đường bỏ lại sau lưng cả một trời hoài bão và ước mơ, bao nhiêu những người con ưu tú của đất Việt kiên trung trong sự tra tấn dã man của địch; bao nhiêu đôi mắt của những người mẹ đã mù lòa khi phải khóc cho cả chồng lẫn con hy sinh nơi miền biên ải và còn rất nhiều đau thương, mất mát, đấu tranh nữa… chỉ vì hai chữ thống nhất.

( Ngày thống nhất đất nước năm 1975, sông Bến Hải là sự chia cắt sau cùng và cũng đau đớn tột cùng đã được nối liền)

Ngày thống nhất đất nước năm 1975, sông Bến Hải là sự chia cắt sau cùng và cũng đau đớn tột cùng đã được nối liền

Ngày thống nhất đất nước năm 1975, sông Bến Hải là sự chia cắt sau cùng và cũng đau đớn tột cùng đã được nối liền. Dòng sông đã chảy trở lại như bao dòng máu con dân đất Việt đã hòa chung một nhịp. Tưởng rằng, khi sự ngăn cách sau cùng về chiến tuyến bị dỡ bỏ, thì những sự ngăn cách khác đều bị thoái lui và không gì ngăn cản nổi. Ấy vậy mà, nó lại khởi đầu cho sự chia cắt trong lòng chính đồng bào của mình. Sự ngăn cách ấy hình thành trong một cuộc chiến phi nghĩa mà người điều khiển chính là Mỹ. Chúng dùng chiêu bài “quốc gia giả hiệu” để xây dựng bộ máy chính quyền tay sai bản xứ nhằm dập tắt đấu tranh cách mạng ở nông thôn, lập ấp chiến lược để dồn dân, chiếm đóng, khống chế quần chúng. Thâm độc hơn với “chính sách dùng người Việt trị người Việt”, chính quyền Mỹ đẩy nhân dân ta ra đối chọi với nhau, vì thế mới có chuyện chính đồng bào mình phải cầm súng chiến đấu nhưng ở 2 chiến tuyến khác nhau.

Giải thích về điều này nhà báo Trần Mai Hạnh – một người bước ra từ chiến tranh đã khẳng định, “Người Việt Nam không có ai muốn cầm súng cả… nhưng cái cao hơn tất cả là độc lập tự do của một dân tộc, quyền tự do của một con người, thống nhất của cả nước. Đó là điều thiêng liêng nhất. Người ta không thể đi làm nô lệ được mà phải chiến đấu đến cùng để thống nhất đất nước.”

Tôi có thể hiểu được cảm giác của một số đồng bào miền Nam của mình lúc đó. Họ không thể có sự lựa chọn nào khác, theo hoặc chết. Cái chết trong chiến tranh không đáng sợ, nhưng sau đó là cả một gia đình, người mẹ già, đàn con thơ. Cũng có thể đối với một số đồng bào ta lúc ấy, cái bánh vẽ mà chính quyền Mỹ đưa ra rất lớn và do sống lâu trong sự bảo hộ nên tư tưởng có thể bị thay đổi. Nhưng dù lựa chọn thế nào thì cái giá đánh đổi cũng không phải nhỏ, đó chính là phục tùng tuyệt đối mệnh lệnh của những người bảo hộ cho mình. Sự thật phũ phàng ấy đã được ông Nguyễn Cao Kỳ (phó tổng thống VNCH thời ấy) chua chát khẳng định, “Mỹ luôn luôn đứng ra trước sân khấu, làm “kép nhất”. Vì vậy ai cũng cho rằng đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi chỉ là những kẻ đánh thuê…”. Ông kể rằng mình cùng Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Khánh, và Nguyễn Chánh Thi từng bị đại sứ Mỹ triệu tập và đập bàn ghế trách mắng thậm tệ, rằng “từ nhỏ tới lớn, ngay cả cha ruột cũng chưa bao giờ chửi mắng tôi nặng nề và lâu đến như vậy”.

( Vị phó tổng thống VNCH thời ấy Nguyễn Cao Kỳ đã chua chát thừa nhận, người Việt Nam là kẻ đánh thuê của Mỹ)

Vị phó tổng thống VNCH thời ấy Nguyễn Cao Kỳ đã chua chát thừa nhận, người Việt Nam là kẻ đánh thuê của Mỹ

Tôi khâm phục ông Nguyễn Cao Kỳ đã vượt qua được định kiến trong lòng, đối mặt với sự tẩy chay của cộng đồng Cali để nói về sự thật mà không phải ai cũng can đảm đối diện. Sự phân hóa đất nước từ năm 1954 đến 1975, khiến đồng bào miền Nam ngộ nhận đang đối đầu với miền Bắc, chính vì vậy, khi chiến thắng xảy ra, họ mang nặng tâm lý của bên thua cuộc, sợ bị trả thù. Ngoài ra, với âm mưu thâm độc của kẻ chuyên xâm lược lúc bấy giờ, chính quyền Mỹ đã “nhồi nhét” vào tư tưởng của họ những định kiến không thể phá vỡ về sự chính sách sai lầm của các lực lượng Chính phủ Cách mạng lâm thời. Trong khi đó, vì dồn toàn lực đấu tranh, vấn đề hòa hợp dân tộc lúc bấy giờ vẫn chưa được thực hiện có hiệu quả. Đó là lý do vì sao, sau 12 năm bản chất của cuộc chiến được phơi bày từ chính người trong cuộc, 42 năm ngày thống nhất đất nước, thế nhưng một số đồng bào mình vẫn chưa thoát khỏi nỗi ám ảnh năm xưa. Đây đó vẫn còn những người Việt Nam chưa hòa nhập với đại gia đình Tổ Quốc, dù không ai muốn vậy. Vết thương chiến tranh trong lòng dân tộc vẫn còn đó, tuy đã bớt đi nhiều nhưng vẫn chưa khỏi hẳn. Mỗi khi trái gió trở trời nó lại đau nhức!

Tôi chua xót khi nhìn một số người thuộc thế hệ thứ 2, 3 sau ngần ấy năm vẫn giữ trong lòng một mối hận mà vốn dĩ họ chỉ biết qua lời kể của cha mẹ, ông bà mình. Trong đôi mắt của họ ánh lên sự giận dữ nhưng tôi dám chắc họ không biết mình phải tức giận điều gì bởi những ngày lịch sử kia họ chưa từng bước qua và chứng kiến. Tôi tiếc cho những đôi mắt ấy lý ra đã có màu xanh hy vọng nếu như họ không bị nuôi lớn bằng tư tưởng thù hằn quá lâu như vậy!

Những nỗi đau chia cắt do tư tưởng của thế hệ người đi trước không thể nào để ảnh hưởng tương lai của những đứa trẻ. Dù bạn ở bất cứ đâu trên thế giới này thì trong người bạn vẫn có dòng máu Lạc Hồng, vẫn là con dân đất Việt. Đừng vì khúc mắc quá khứ mà phủ nhận hết những giá trị tốt đẹp mà ông cha ta đã đánh đổi xương máu để có được! Bởi ai cũng cần có một quê hương để tự hào và trở về! Thay đổi thù hận trong quá khứ bằng tấm lòng vị tha, bằng niềm tin vào sự bao dung, nhân ái sẽ làm cho người ta sống thanh thản.

( Người dân đi đón thân nhân là kiều bào về quê ăn tết)

Người dân đi đón thân nhân là kiều bào về quê ăn tết

Tôi và những người từng bước ra từ cuộc chiến này đều hiểu những ước mơ cháy bỏng về công bằng, dân chủ, văn minh đã từng là nguồn động lực to lớn thôi thúc hàng triệu người Việt xông ra trận tuyến. Thế nhưng, những giá trị nói trên không đương nhiên đến cùng với Ngày thống nhất. Nó chỉ tạo ra những điều kiện quan trọng nhất là hoà bình để chúng ta thực hiện ước mơ cháy bỏng của mình mà thôi.

Đất nước chúng ta sau năm 1975 “gượng dậy” đối mặt với những tổn thất nặng nề của chiến tranh để vươn ra biển lớn. Không chỉ bị các thế lực bao vây, cấm vận toàn diện về kinh tế, cô lập về ngoại giao, đối mặt với các âm mưu gây bạo loạn lật đổ, mà chúng ta còn phải tập trung sức lực trong cuộc chiến đấu mới bảo vệ Tổ Quốc, làm nghĩa vụ quốc tế. Khi nhận xét về tình hình đất nước 10 năm sau ngày thống nhất, Nguyên Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã thẳng thắn thừa nhận, “do cả những sai lầm về một số chủ trương và chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện, nhất là nhận thức chưa thật đúng, thật phù hợp về chủ nghĩa xã hội, có phần chủ quan, nóng vội, cho nên nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội nghiêm trọng”.

Đây gọi là cái rủi ro lớn nhất của thống nhất, sức nặng của vinh quang quá lớn. Thực tế cho thấy vượt qua cái bóng của vinh quang là điều không dễ. Nhưng có vượt qua được, chúng ta mới có thể tiếp tục tiến lên.

Thẳng thắn đối mặt và sửa chữa sai lầm là một điều rất đáng hoan nghênh và nó cũng là sự khởi đầu mới cho một tương lai phát triển. Sau 12 năm từ khi những phát biểu của nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, đất nước ta đã có những chỗ đứng nhất định trên trường quốc tế. Không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam được Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vũ khí trong khi Trung Quốc vẫn đang “gào thét” nhưng không được chấp nhận. Theo Đại tá Lê Thế Mẫu, nguyên Trưởng phòng Thông tin – Khoa học quân sự thuộc Viện Chiến lược quân sự cho biết, quyết định này không phải là một món quà mà nó xuất phát từ mối quan hệ hợp tác toàn diện, có lợi cho cả hai bên, thậm chí là lợi ích rất lớn mà Mỹ có được từ hợp tác này.

Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn vũ khí cấm vận cho Việt Nam trong chuyến thăm lịch sử của Tổng thống Obama

Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn vũ khí cấm vận cho Việt Nam trong chuyến thăm lịch sử của Tổng thống Obama

Điều tôi vẫn đau đáu tự hỏi rằng, Việt Nam và Mỹ đã thành thành bạn và đối tác của nhau. Vậy mà người Việt với nhau vẫn chưa xóa bỏ xong ngăn cách?

Tôi biết, còn rất nhiều đồng bào mình vẫn khắc khoải khôn nguôi, giằng xé giữa việc ở và về mỗi khi nhớ quê hương, mặc dù chưa vượt qua định kiến để trở về nhưng họ vẫn theo dõi từng ngày những “bước đi” của đất nước. Họ phẫn nộ với những bức xúc của xã hội, sự tha hóa, vấn nạn tham nhũng trong một số cán bộ nhà nước… Những hiện thực đó không thể chối cãi nhưng nếu dựa vào đó để đánh giá là thành quả của một đất nước, sự cố gắng của cả một dân tộc là sai lầm. Đau xót hơn, những đối tượng phản động lại luôn dựa vào những vấn nạn này để kích động đồng bào ta, máu thịt của ta ngày càng xa rời đất Mẹ. Vì mục tiêu cá nhân, bọn chúng không cho phép những “vết thương lòng” được lên da non và khép miệng mà luôn chọc vào để nó chảy máu đầm đìa. Chính vì thế, tôi đã nghe chính đồng bào mình chửi rủa trong sự thống khổ không tìm ra lối thoát trong 42 năm thù hận.

Tất nhiên, “nói cho công bằng, nếu như đường lối của mình đúng, sự lãnh đạo của Đảng tốt hơn nữa, thì sức bùng lên của dân tộc Việt Nam rất mạnh. Nhưng bây giờ cũng còn những cái phải sửa lại. Đảng phải trong sạch, từ trên xuống phải gương mẫu, nói và làm tới nơi tới chốn, không thì dân không tin. Như ông Phan Minh Tánh, nguyên ủy viên trung ương Đảng, nguyên trưởng ban Dân vận Trung ương, nguyên phó bí thư Thành ủy TP.HCM, người bước ra từ cuộc chiến bộc bạch thì sẽ tránh được sự đau đớn của Tổ quốc khi nhìn thấy lòng yêu nước của đồng bào mình bị lợi dụng. Vì vậy, vấn đề quy tụ được lòng dân trong thời điểm hiện nay, là một yêu cầu cấp bách để tập hợp sức mạnh đại đoàn kết dân tộc đưa đất nước Việt Nam phát triển hơn nữa.

Tôi thấy những năm qua, chúng ta đã có hàng loạt những chính sách lớn để tha thiết kêu gọi kiều bảo trở về thăm và xây dựng quê hương. Từ Nghị quyết 36 về Việt Kiều; Quyết định dân sự hóa Nghĩa trang Biên Hòa; Luật Quốc tịch năm 2008 đã tạo điều kiện cho phép công dân Việt Nam mang hai quốc tịch; Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 Luật nhà ở và Điều 121 Luật đất đai cho phép mở rộng đối tượng người Việt Nam ở nước ngoài được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; Miễn thị thực cho kiều bào cư trú trong nước 3 tháng và mới đây nhất là Công hàm thỏa thuận về cấp thị thực giữa hai Chính phủ Việt – Mỹ theo đề nghị của Chủ tịch nước Trần Đại Quang… Tuy nhiên, tôi thấy vẫn còn nhiều hạn chế để có thể kêu gọi đồng bào ta toàn tâm trở về.

Đó là nhiều chính sách rất tốt, nhưng về mặt triển khai chưa hiệu quả, quá trình thực thi còn nhiều vấn đề. Rào cản lớn nhất vẫn chủ yếu là con người. Đó là từ vấn đề thủ tục hành chính. Dù rằng, đã có cải thiện nhiều, nhưng thủ tục hành chính vẫn khiến các doanh nghiệp Việt kiều ngại nhất khi muốn đầu tư kinh doanh tại quê nhà.

Ví dụ, nếu một doanh nhân trở về Việt Nam đầu tư mà hoàn tất xong thủ tục hành chính trong 3 ngày thì họ sẽ phấn khởi nhưng hiện nay phải kéo dài mất 1 tháng hoặc hơn, đấy là chưa kể sự nhiêu khê nhũng nhiễu của các cán bộ thực hiện công việc này. Điều đó, khiến cho những người dù rất có lòng những cũng phải chùn bước.
Một điều đáng nói nữa là những cán bộ hành chính như “ông trời con” ở cơ quan đó. Họ quá cứng nhắc, thậm chí là chuyên quyền, vênh váo. Ví dụ như, bà con kiều bào trở về định cư nhưng phải ra lại nước ngoài để làm những thủ tục cần thiết, vì thế đôi khi họ quên đóng tiền điện, nước, internet hoặc có thể lúc họ ra đi chưa tới thời hạn đóng, thế là mang “cắt phéng” điện, nước của họ. Tới khi họ gọi điện xin đóng qua việc chuyển khoản nhưng lại không được chấp nhận, yêu cầu lên cơ quan, không giải quyết qua điện thoại, thậm chí còn đòi mang hộ khẩu nên mới được cung cấp trở lại. Kì khôi, nếu mà họ mang được hộ khẩu tới thì làm gì có chuyện phải gọi điện nhờ giải quyết, đấy là chưa kể gọi hàng chục lần vào một cơ quan nhưng không biết đơn vị nào có thể giải quyết yêu cầu của mình.

Còn một vấn đề nữa, sự chia sẽ còn tồn tại và phát triển mạnh mẽ ở các phương tiên thông tin đại chúng. Nếu không có tư tưởng vững chắc sẽ bị cuốn theo những tư tưởng phiến diện, một chiều khi nhìn về ngày lịch sử này. Tôi vẫn thấy trên mạng xã hội nhan nhản những định kiến về “ngụy quân”, “ngụy quyền”, thế lực thù địch, VNCH, Cộng sản… Họ tính toán “công tội” với nhau; người thì hăng say nói về chiến thắng, kẻ thì coi đó là sai lầm, nhưng cuối cùng vẫn quên mất rằng thống nhất là lợi ích chung của cả dân tộc và người được hưởng lợi hay chịu những tổn thương cuối cùng chung quy lại chính là đồng bào của mình.

Những biến cố về mặt lịch sử, là điều không thể thay đổi nhưng chúng ta có quyền quyết định tâm thế khi đón nhận nó. Tôi ước gì trong những ngày này, đọc được các thông tin về việc chúng ta đã vươn lên ra sao, lớn mạnh thế nào?; Vấn đề hòa hợp, hòa giải dân tộc đã giải quyết tới đâu và chúng ta đã làm gì để dang tay đón máu thịt của mình trở về? Tôi muốn biết các bạn trẻ nghĩ gì về ngày này và cả quan điểm của kiều bào ta sau bao 42 năm ngày thống nhất? Đó là cách chúng ta thể hiện mình đã làm gì để xứng đáng với sự hy sinh cao cả của những người anh hùng dân tộc.

Việc tưởng nhớ theo cách thiết thực không chỉ dành cho những người đã bước qua đau thương của chiến tranh mà nó còn là sứ mệnh của thế hệ trẻ. Có cái nhìn đúng đắn về thời cuộc mới có thể xác định mục tiêu phấn đấu để đáp đền ơn nghĩa sâu nặng của ông cha ta và mở lòng hơn với những nỗ lực quay trở về của đồng bào mình trên khắp thế giới!

Lực lượng kiều bào ta ở khắp năm châu hiện nay là một lực lượng đáng kể và đáng nể, mà không phải đất nước nào, dân tộc nào cũng có được. Không chỉ về số lượng mà còn là về chất lượng. Đây còn là một tổng hợp, một kế thừa hiếm thấy từ khi nước ta còn là một thuộc địa. Và họ đã đóng góp vào sự phát triển của quê hương đất nước không hề nhỏ. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), năm 2015, Việt Nam lọt vào nhóm 7 quốc gia đón dòng kiều hối nhiều nhất thế giới.

Sự hòa giải là mục tiêu tất yếu của dân tộc. Một dân tộc không thể nào mạnh, không thể nào phát triển được nếu dân tộc đó chia rẽ và căm thù lẫn nhau. Thế nhưng, muốn thật sự hòa giải thì phải thay đổi rất nhiều từ việc quy tụ lòng dân của Đảng và từ những người đứng đầu Nhà nước và cả từ những nhận thức đúng đắn của thế hệ trẻ đang gánh trên vai trọng trách của đất nước!

Ngày 30/4 là một sự kiện lịch sử đã qua và có thể vùi lấp sau lớp bụi thời gian. Điều vĩnh viễn trường tồn là những bài học về sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Còn chúng ta đang đứng ở đâu để đối diện với ngày thống nhất này?

Nguyễn Thái Bảo ( Người bước ra từ khói lửa)

Tâm thư của du học sinh Hàn tại Việt Nam: Thèm lắm hai chữ thống nhất!

Tâm thư của du học sinh Hàn tại Việt Nam: Thèm lắm hai chữ thống nhất!

Khi Việt Nam rợp bóng cờ hoa, áp phích kỉ niệm 42 năm ngày Tết thống nhất đất nước, thì ngay tại Hàn Quốc - một phần Tổ quốc của tôi đang căng thẳng, có thể chiến tranh bất cứ...
Ngày 30/4, dưới góc nhìn của TS Nguyễn Sĩ Dũng

Ngày 30/4, dưới góc nhìn của TS Nguyễn Sĩ Dũng

Ngoảnh mặt lại, hơn nửa đời người đã ở phía sau lưng. Kể từ ngày ấy - Ngày chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, hơn 40 năm đã mải miết trôi qua. Thời gian tạo ra khoảng cách. Khoảng cách tạo ra tầm nhìn....
Thống nhất đất nước là thắng lợi chung của cả dân tộc

Thống nhất đất nước là thắng lợi chung của cả dân tộc

Chiến tranh đã lùi xa được hơn 40 năm, những khoảnh khắc bom đạn đã trôi về miền kí ức, một thế hệ chưa từng nghe tiếng súng, tiếng bom đang dần dần tiến lên làm chủ đất nước, dân tộc...
Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@tolam.org
Thích và chia sẻ bài này trên: